Cổ Cầm - Cây đàn của người quân tử.

Sống Tự Giác

Cổ Cầm còn có tên Dao Cầm, Ngọc Cầm, Ti Đồng và Thất Huyền Cầm, là loại nhạc cụ truyền thống Á Đông, có lịch sử trên 3000 năm.

13:42:12 29/03/2021

"Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai."

(Nguyễn Trãi – “Côn Sơn ca”)

Tiếng đàn cầm của Ức Trai bên ghềnh Côn Sơn này chính là cổ cầm. Cổ cầm còn có tên Dao Cầm, Ngọc Cầm, Ti Đồng và Thất Huyền Cầm, là loại nhạc cụ truyền thống Á Đông, có lịch sử trên 3000 năm.

Cổ cầm đứng đầu trong tứ nghệ “Cầm Kỳ Thư Họa”, tiêu biểu cho thú cao nhã, là nhạc cụ diễn tấu không thể thiếu khi các văn nhân làm thơ phú, ngâm nga, ca hát. Gọi là “đốt hương gảy đàn” là thể hiện tinh thần “sạch sẽ” và “thanh tịnh” đối với thưởng thức nghệ thuật cầm lạc.

Nguồn gốc

Trong «Tân luận – Cầm đạo thiên» của Hoàn Đàm (23 – 56 TrCN) ghi:“Xưa Thần Nông kế tục Bào Hy làm vua thiên hạ, trên theo phép trời, dưới theo phép đất, gần lấy thân, xa lấy vật, vót cây ngô đồng làm cầm, lấy thừng làm dây, lấy đức thần linh hòa cùng trời đất”. Như vậy, kết cấu của “cầm” tượng trưng cho đức của thần linh, hòa điệu cùng trời đất.

Trong «Phong tục thông» của Ứng Thiệu thời Đông Hán có ghi lại: “Cầm đài 4 thước 5 tấc, theo Tứ thời Ngũ hành; 7 dây tượng trưng cho 7 tinh tú, dây lớn là quân, dây nhỏ là thần, thêm 2 dây Văn vương và Võ vương, mang ý nghĩa ân huệ vua tôi”. 

Về âm vị của đàn Cổ Cầm, trong «Cầm tiên» của Thôi Tôn Độ (954 – 1020) triều nhà Tống có kể rõ: “13 Huy tượng trưng cho các tháng trong năm, ở giữa tượng trưng cho nhuận”. Vốn là đàn cổ có 12 Huy (âm vị) tượng trưng cho 12 tháng, còn Huy lớn nhất ở giữa đại biểu cho Quân vương, tượng trưng cho tháng nhuận.

Ngoài ra đàn Cổ Cầm còn có 3 loại âm sắc: “âm phiếm”, “âm án” và “âm tản”, tượng trưng cho Thiên, Địa, Nhân hòa hợp. Trong «Lạc thác – Ngụy Văn Hầu» ghi: “Quân tử nghe âm cầm sắt, tất nghĩ về bề tôi có chí nghĩa”. Có nghĩa là âm sắc dịu dàng của dây cầm sắt là để liên hệ đến bề tôi có chí nghĩa chính trực, trung hậu.

Lịch sử đàn Cổ Cầm có thể truy về 3000 năm trước, các văn nhân hiền sĩ ngày xưa thường nhờ đàn Cổ Cầm mà nổi danh thiên hạ, như bậc thánh hiền Khổng Tử chính là một nhà soạn nhạc cũng như diễn tấu Cổ Cầm nổi tiếng; hay như Bá Nha nổi danh thời Xuân Thu cũng qua quá trình học Cổ Cầm trên đảo Bồng Lai, cho chúng ta lãnh hội được trí tuệ“lặng nhìn đất trời, thuận theo tự nhiên”.

Có 6 điều kị: Nghe đau thương, khóc lóc, việc chuyên tâm, lòng phẫn nộ, giới dục và kinh sợ. Và có 7 lúc không chơi đàn: Mưa to gió lớn, đau buồn cực độ, áo mũ không chỉnh tề, say rượu loạn tính, không sạch hoặc gần cái dơ bẩn, không thơm hoặc gần với cái suồng sã, không hiểu âm nhạc hoặc gần với cái dung tục, gặp những cái này đều không chơi đàn.

Âm thanh cổ cầm rất độc đáo, nghe nhạc cổ cầm cảm thấy yên tĩnh du dương xa xôi. Đặc điểm lớn nhất của cổ cầm là “Tĩnh”, tiếng đàn cầm được gọi là “Âm thanh cổ đại”, âm thanh cổ cầm là “Tiếng của trời đất”. Chơi cổ cầm cần phải có môi trường yên tĩnh và tâm cảnh yên tĩnh.

Cổ cầm có 3 loại âm, tán âm, phiếm âm và án âm, đều rất yên tĩnh. Tán âm trầm mà khoáng đạt xa xôi, gợi nhớ về thời viễn cổ. Phiếm âm như những âm thanh của thiên nhiên, gợi cảm giác thanh lạnh như vào cõi tiên. Án âm rất phong phú, những âm thanh mềm mại tinh tế du dương, lúc như tiếng người, có thể cùng đàm luận, lúc như sợi tơ lòng, thăm thẳm nhiều sắc thái. Phiếm âm như trời, án âm như người, tán âm như đất, hợp thành tam tài: thiên – địa – nhân, do đó cổ cầm có thể biểu lộ tâm tư tình cảm của con người, biểu đạt đạo lý của trời đất vũ trụ.

Ba loại âm của âm nhạc cổ cầm đan xen, biến ảo vô cùng, du dương bất tận, có thể chứa đựng, biểu đạt núi cao nước chảy, vạn hốc thông reo, áng mây bóng nước, chim hót trùng kêu cho đến đạo lý triết học, tâm tư tình cảm phức tạp của con người.

Nhắc đến cổ cầm gắn liền với những câu chuyện, những tâm tình không ngôn ngữ nào diễn tả được nên sử dụng âm nhạc để nói lên. Lưu truyền ngàn năm với thập đại danh khúc: Cao sơn lưu thủy, Quảng lăng tản cầm khúc, Bình sa lạc nhạn, Thập diện mai phục, Ngư tiều vấn đáp, Tịch dương tiêu cổ, Hán cung thu nguyệt, Mai hoa tam lộng, Dương xuân bạch tuyết và Hồ gia thập bát phách.

(Phạm Công - sưu tầm và tổng hợp)