Tư duy như một nhà sư

Rèn luyện tâm trí bình an và có chủ đích.

“Tư duy như một nhà sư” đặt ra một con đường, một lối nhìn mới về đời sống. Một con đường có tính chất nổi loạn, cắt đứt, tìm kiếm lại bản thân, khám phá ra mục đích sống, khả năng tập trung, định lực và mong muốn phục vụ xã hội. Mục đích sống của một nhà sư là có một cuộc sống tự do, giải thoát khỏi tự ngã, khỏi thèm khát, dục vọng, lo lắng, giận dữ, đau khổ và mọi thứ rác rưởi của đời.  Ba giai đoạn thích ứng với một lối tư duy của một nhà sư bao gồm: thứ nhất, buông xả mọi ảnh hưởng từ bên ngoài cũng như mọi sợ hãi ở bên trong để tạo ra một khoảng không gian mới cho bản thân, thứ hai, sắp xếp lại cuộc sống để có thể tạo ra những lựa chọn có tính mục đích và cuối cùng, mở rộng lòng biết ơn và chia sẻ với cả thế gian.

@davidnguyenqv

Bài học từ tác phẩm "Tư duy như một nhà sư" của Jay Shetty ##docsach ##docsachmoingay ##bieton ##tinhthuong ##chiase

♬ original sound - David Nguyen

Tóm tắt tác phẩm Tư Duy Như Một Nhà Sư của tác giả Jay Shetty

 

Ý chính của phần Lời tựa

“Tư duy như một nhà sư” đặt ra một con đường, một lối nhìn mới về đời sống. Một con đường có tính chất nổi loạn, cắt đứt, tìm kiếm lại bản thân, khám phá ra mục đích sống, khả năng tập trung, định lực và mong muốn phục vụ xã hội. Mục đích sống của một nhà sư là có một cuộc sống tự do, giải thoát khỏi tự ngã, khỏi thèm khát, dục vọng, lo lắng, giận dữ, đau khổ và mọi thứ rác rưởi của đời. 

Ba giai đoạn thích ứng với một lối tư duy của một nhà sư bao gồm: thứ nhất, buông xả mọi ảnh hưởng từ bên ngoài cũng như mọi sợ hãi ở bên trong để tạo ra một khoảng không gian mới cho bản thân, thứ hai, sắp xếp lại cuộc sống để có thể tạo ra những lựa chọn có tính mục đích và cuối cùng, mở rộng lòng biết ơn và chia sẻ với cả thế gian. 

 

Ý chính từ Chương 1

Càng để ý tới những gì người khác nghĩ về mình thì càng bị trói buộc và khó khống chế, điều khiển được chính cuộc đời mình.

Các nhà sư biết cách dẹp bỏ loạn động gây phân tâm. Họ quan sát các lực ngoại vi có khả năng đẩy con người đi xa khỏi giá trị trọng yếu và tư duy về những lực này, xem xét xem chúng có đồng hướng và dẫn dắt họ tới mục tiêu mà họ muốn trở thành và tới cuộc sống mà họ mong muốn hay không.

Bạn cần phải biết những giá trị chính yếu của bản thân, vì khi biết rõ giá trị của mình, bạn sẽ biết mình phải làm gì trong cuộc sống này. Giá trị chính là la bàn của đời sống. 

Đức Phật dạy rằng giá trị của con người do chính họ hấp thụ vào. Nếu họ hấp thụ từ lời bàn tán, sự ghen tị, sự phán xét, bạo lực, thì giá trị đó là giá trị tiêu cực. Nếu họ hấp thụ lòng từ bi, sự thấu hiểu, trí tuệ, thì giá trị sẽ là giá trị tích cực.

Những gì bạn làm lúc rảnh rỗi chỉ ra giá trị của bạn. 

Nếu bạn không chắc rằng một ai đó có mối liên hệ thế nào với giá trị của bạn, hãy tự hỏi một câu hỏi sau: Khi tôi dành thời gian cho người này hay nhóm người này, tôi có cảm thấy tôi gần hơn hay xa hơn với con người mà tôi muốn trở thành?

Nói chuyện với ai, xem cái gì, làm gì với thời gian của mình: đây là những nguồn sinh ra giá trị và niềm tin. Nếu bạn sống từ ngày này qua ngày khác mà không tự hỏi mình về giá trị của bản thân, bạn sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi người khác và những gì họ muốn bạn nghĩ.

 

Ý chính từ Chương 2

Ngày lại ngày, chúng ta liên tục suy nghĩ tiêu cực một cách tự nhiên. Chúng ta than thở về bạn đời, bạn tình, bạn kinh doanh, chúng ta đồn thổi chuyện này chuyện kia về người này người kia, chúng ta tranh luận, cãi cọ, dối gạt lẫn nhau. 

Chúng ta càng than thở về một điều gì đó nhiều bao nhiêu thì chúng ta càng tự thuyết phục bản thân rằng điều đó là quan trọng. Và tự cho một điều là quan trọng, chúng ta lại càng than thở về điều đó nhiều hơn.

Có năm loại người tiêu cực: Người Thích Than Thở, Người Thích Phá Hoại, Người Thích Chê Bai, Người Thích Cạnh Tranh và Người Thích Khống Chế. 

Để có thể  tương tác với những người tiêu cực này, con đường tư duy của một vị sư sẽ là đào tận gốc, chẩn đoán và soi sáng tình huống để có thể lý giải một cách đơn giản nhất có thể cho mọi vấn đề. 

Trở thành người quan sát có mục đích. Tỉnh thức về một tình huống và trả lời một cách logic cho tình huống đó. Không phản ứng bằng tình cảm. 

Hòa nhập vào những nhóm cộng đồng tốt đẹp hơn mình, để có thể luôn học hỏi và phát triển thay vì bị kéo đi xuống thấp.

Đôi khi, bạn không thể xua đuổi hết những kẻ tiêu cực xung quanh mình, nhưng bạn hoàn toàn có thể điều chỉnh bao nhiêu thời gian bạn dành cho họ. Có nhiều người có mặt trong cuộc đời bạn đơn giản là vì bạn cho phép họ ở đó mà thôi. 

Để giới hạn sự tiêu cực, sử dụng một hệ thống tư duy như sau: Phát Hiện, Ngừng Lại và Tráo Đổi. Phát hiện ra điều làm cho mình khổ, tìm cách ngưng những nguyên nhân tạo ra sự khổ, sau đó tìm cách thay thế những nguyên nhân đó bằng những nguyên nhân tích cực.

Tha thứ là hành động buông xả giận dữ. Phải tha thứ cho bản thân mình đầu tiên và quan trọng nhất sau đó mới thực tập tha thứ cho người. Khi ta nhận ra rằng ta không thể thay đổi quá khứ, vậy thì đừng tự dằn vặt bản thân, hãy tha thứ cho bản thân và cho mọi người. 

Tha thứ giúp chúng ta sống lâu hơn. Khi ta tha thứ, ta không giữ hận thù ở trong nội tâm nữa. Nhờ đó mà tư duy được giải phóng một phần lớn. Tha thứ giúp chúng ta khỏe mạnh hơn. 

 

Ý chính từ Chương 3

Đức Phật nói: Sợ hãi không giúp ta tránh được cái Chết. Sợ hãi làm ta tránh né chính Cuộc sống. 

Chúng ta để cho sợ hãi điều khiển mình, nhưng sợ hãi lại không phải là vấn đề chính. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta sợ hãi nhầm đối tượng. Chúng ta đáng lẽ phải sợ bỏ lỡ mất cơ hội mà nỗi sợ hãi đem tới.

Bốn thứ gây phân tâm từ sợ hãi: hoảng loạn, bất động, bỏ chạy và chôn giấu. Mỗi hành động này chỉ là một phiên bản khác nhau của tâm thức từ chối không chấp nhận nỗi sợ hãi. Vì thế bước đầu tiên để chuyển hóa nỗi sợ hãi từ tiêu cực sang tích cực là phải chấp nhận đã.

Để giúp chiến đấu với nỗi sợ hãi, hãy nghĩ rằng cảm xúc của mình hoàn toàn tách biệt với bản thân. Ví dụ, khi giận giữ thì tự nhủ: “Tôi cảm thấy cơn giận đang tới” thay vì nói “Tôi đang giận dữ”. 

Chúng ta sợ cả những thứ còn chưa xảy ra, đó là những thứ mà chúng ta chẳng thể nào khống chế được. Chúng ta không thể thay thế được tương lai. Chúng ta sống trong hiện tại. Chúng ta phải chấp nhận mọi tình huống ở hiện tại và tập trung vào những gì trong sự khống chế của mình ở hiện tại.

Khi bạn chôn vùi nỗi sợ hãi, thực ra là bạn đang chất chứa và tích lũy chúng. Chúng sẽ làm bạn cảm thấy ngày một ngạt thở. Bạn cần phải đối diện với nỗi sợ hãi, đi sâu vào chúng để rồi cắt đứt và buông xả chúng.

Nỗi sợ hãi có thể là động lực thúc đẩy ta nhưng cũng có thể giới hạn ta. Đi qua giai đoạn chấp nhận nỗi sợ hãi và xử lý sợ hãi sẽ giúp ta lập trình lại tư duy về nỗi sợ, nhờ đó mà có thể sử dụng nỗi sợ như là một tín hiệu của cơ hội mới xuất hiện. 

 

Ý chính từ Chương 4

Chúng ta ai cũng có kế hoạch và ước mơ cho tương lai. Những gì tạo nên động lực cho chúng ta thực hiện những kế hoạch đó đến từ: Sợ hãi, ham muốn, trách nhiệm và tình yêu.

Mong ước giá trị vật chất chỉ là bên ngoài, mong ước hạnh phúc là bên trong. Chúng ta đi tìm kiếm hạnh phúc ở bên ngoài một cách vô vọng vì hạnh phúc chỉ có thể được tìm thấy ở bên trong chúng ta.

Sợ hãi và thành công đều có giới hạn. Bạn có thể rất thành công mà vẫn rất bất hạnh. Bạn cũng có thể rất sợ hãi mà vẫn hạnh phúc.

Từ cội rễ của động lực, bạn phát triển ý định và đi tới mục tiêu. Ý định chính là mục tiêu hướng bạn trở thành con người mà bạn muốn trở thành, một con người có thể hành động với mục tiêu và sống có ý nghĩa. 

Một khi bạn biết vì sao mình muốn, biết được ý định, bạn phải bước tới hành động. Bạn không thể chỉ ngồi đó và hy vọng điều bạn muốn sẽ xảy ra.

Nếu bạn có cảm nhận tự tin và sáng suốt nắm biết lý do sau mỗi hành động, mỗi bước chân của mình, thì khả năng bạn thành công sẽ cao. Cảm giác thỏa mãn sẽ đến từ lòng tin vào những giá trị đằng sau mọi hành động của bản thân. 

 

Ý chính từ Chương 5

Các nhà sư được dạy cách sống không có Tự ngã. Họ không nghĩ rằng họ tốt hơn người khác mà chỉ đơn giản như là người khác mà thôi.

Mỗi người đều có một bản chất tâm sinh lý quyết định sự phát triển và thăng hoa của bản thân họ. Một cách tự nhiên, con người sẽ bị hút về phía những gì họ có thể làm tốt để phục vụ người khác. Đây gọi là Đạt Ma.

Nếu bạn không yêu thích việc bạn đang làm và không thành công ở việc đó, thì bạn đang không đóng góp gì cho xã hội cả. Và như thế bạn không làm tròn Đạt Ma của mình và đang không đi đúng theo mục đích sống của bạn. 

Trong cuộc sống, đôi khi bạn phải dành khá nhiều thời gian làm những thứ bạn không muốn làm, để rồi thực sự thấu hiểu và nhận ra điều bạn thực sự muốn. 

Mỗi chúng ta đều có một tài năng đặc biệt nhưng tài năng đó có thể không hiển thị rõ ràng trên con đường đời để ta dễ dàng nhận ra. Đạt Ma của ta không trốn tránh nhưng đôi khi ta phải kiên nhẫn mới có thể nhận ra Đạt Ma của chính mình.

Có bốn loại Varna, hay còn gọi là 4 chủng Đạt Ma: đó là Người Dẫn Đường, Người Lãnh Đạo, Người Sáng Tạo và Người Thực Hiện. Người Dẫn Đường thì thích học và chia sẻ kiến thức. Người Lãnh Đạo thì thích gây ảnh hưởng và cung cấp, cho tặng, ban phát. Người Sáng Tạo thì thích khởi tạo thứ mới mẻ. Người Thực Hiện thì thì thích xây dựng ra những thứ có thể đo đếm được. 

Biết được mình thuộc chủng nào giúp bạn có thể tập trung xây dựng kỹ năng quan trọng phù hợp và đi theo định hướng tự nhiên. Tự tri sẽ dẫn tới khả năng tập trung cao. Khi bạn biết rõ chủng Varna của mình, bạn biết rõ đam mê, kỹ năng mà bạn có thể sử dụng để phục vụ và như thế bạn đang đi đúng theo Đạt ma của mình. 

 

Ý chính từ Chương 6

Nếu bạn muốn tỉnh thức cao hơn về môi trường quanh mình, bạn nên xây dựng một hệ thống hành động lặp đi lặp lại hằng ngày. Bằng cách đó, bạn sẽ nhận ra những điều mới mẻ mỗi ngày. Bạn sẽ tìm thấy sự an lạc trong cả những hành động nhỏ bé, ví dụ như khi bạn đi dạo trên cùng một cung đường hàng ngày, bạn sẽ phát hiện ra khi thì tảng đá mới, khi thì cái cây mới vậy. Điều này sẽ giúp bạn mở rộng dần tâm thức.

Tỉnh thức là khả năng tập trung vào điều mình đang làm. Đây là một kỹ năng có thể học và rèn luyện, ví dụ tập trung vào một món ăn và cảm nhận được hết mọi mùi vị của món ăn đó. 

Chúng ta không thể thay đổi được điều đã xảy ra trong quá khứ và chúng ta không thể biết điều gì sẽ xảy ra trong tương lai, vì thế chúng ta chỉ nên tập trung vào những gì đang xảy ra ngay trong hiện tại và ngay tại nơi đây mà thôi. Có mặt ở hiện tại chính là cách sống giàu có và đầy đủ nhất.

Càng tập trung vào một thứ ở hiện tại, bạn càng làm thứ đó tốt hơn. Nếu muốn làm một điều gì đó thật tốt, bạn phải trở thành một với điều đó. Và thực hiện như thế trong một khoảng thời gian dài. 

 

Ý chính từ Chương 7

Phần lớn thời gian não bộ của ta không chỉ phản ứng với các sự kiện xảy ra mà còn liên tục dự đoán, nghĩ về điều gì sẽ xảy ra tiếp, dựa vào những gì ta đã trải nghiệm trong quá khứ để mà đoán về điều sẽ tới trong tương lai.

Tư duy là bạn hữu khi ta khống chế được nó nhưng là kẻ thù khi ta để nó khống chế ta. Ý nghĩ như những đám mây: đến rồi đi. Mặt trời, bản ngã, thì luôn ở đó. Thân này không phải là ta và Tâm này cũng không phải là ta. Tư duy này càng không phải là ta. 

Trong đầu bạn luôn có những tiếng nói trái ngược, tạo ra những tư duy trái ngược. Chúng ta dựa vào ngũ quan để thu thập thông tin dữ liệu ở hiện tại, rồi lại dựa vào trí nhớ để rút ra dữ liệu về trải nghiệm trong quá khứ, sau đó dựa vào cái gọi là trí tuệ để đánh giá, soi xét và sau đó ra quyết định và lựa chọn cho bản thân.

Giác quan chịu trách nhiệm đối với nhục cảm, dục vọng, sự quyến luyến và dính mắc, chúng kéo ta đi về hướng của những hành động cảm tính, của đam mê, nhục cảm và sự bất định của tâm thức. Các nhà sư có thể làm cho tĩnh lặng các giác quan, nhờ đó mà có thể chế ngự được tâm thức.

Thiền định là một công cụ quan trọng giúp cho ta có thể điều khiển được quá trình thu thập dữ liệu từ 5 giác quan. Trí tuệ, ý chí của ta phải tập trung vào những quy trình tự động, phản ứng tự động của tâm thức, nhờ đó mà có thể đi vào được tàng thức.

Khi tâm thức ta nói “Không làm được đâu” thì ta phải trả lời với chính ta “Ta có thể làm được. Ta có khả năng. Ta có thời gian”. Tiếp tục tự nguyện như để nâng cao khả năng tập trung, chánh niệm và chánh định. Ai có thể làm được như thế thì sẽ sẽ vận hành được tâm và thân một cách hiệu quả. 

Chúng ta đôi khi nói những lời nặng nề với bản thân mình, những lời mà chúng ta sẽ chẳng bao giờ nói với người thân. Câu nói: Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân, điều gì mình không muốn người khác làm với mình thì đừng làm điều đó với người khác. Câu này cũng có thể hiểu là, điều gì mình muốn người khác làm với mình, thì chính mình phải làm với mình trước. Hãy đối xử với bản thân mình thật tốt, với tất cả tình yêu và sự kính trọng. Biết yêu thương bản thân mình thì mới có thể biết yêu thương người khác.

Khi ở trong tình huống mà cảm thấy mất khả năng khống chế bản thân, hãy lùi lại một bước và hãy nhìn hoàn cảnh đó như là một người ngoài cuộc. 

Tập ngồi yên trong im lặng. Trong sự im lặng, ta trở nên tỉnh thức về thân. Nắm được cảm thọ, hơi thở và cả sự trống rỗng.

 

Ý chính từ Chương 8

Bản ngã thực sự là loại ý thức giúp ta thức tỉnh và cảm nhận được sự thực. Bản ngã giả tạo là danh tính mà ta tự tạo ra nhằm cho rằng mình là quan trọng nhất, là người biết hết mọi thứ.

Càng mong mỏi chứng tỏ mình là vĩ đại, là thông thái, chúng ta càng che giấu đi bản chất thực sự của mình. Khi một mình, chúng ta là một người, khác với người mà chúng ta tạo ra để trưng bày với thế giới. Đó là cái thân giả, cái danh tính mà ta muốn tạo dựng trong mắt người khác.

Tự ngã như là một cơ bắp, có thể xây dựng, tập luyện. Bản ngã không phải là kẻ thù nếu biết dùng với mục đích tốt. Bản ngã không phải là vấn đề. Vấn đề nằm ở chỗ sử dụng bản ngã vào con đường sai. 

Cái tự ngã ngạo mạn đòi hỏi được người khác tôn trọng trong khi cái tự ngã khiêm nhường lại truyền tải sự tôn trọng. 

Những người quá tự hào về bản thân thường khó có thể thừa nhận sai lầm của bản thân, quá tự ngạo nên không biết lắng nghe người khác, họ thường sẽ bị lỡ mất cơ hội học hỏi và trưởng thành.

Khi bạn đang ở đỉnh cao, hãy cẩn trọng. Tự ngã thường sẽ cô lập bạn. Đừng sống trong một thế giới mà bạn tự cho rằng mình đặc biệt tới mức có người thì đáng được bạn để ý và có người thì không đáng. Nếu không diệt đi cái tự ngã sai lầm, cuộc đời sẽ diệt bạn.

Chúng ta nghĩ rằng chúng ta là những gì chúng ta đạt được. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta là công việc, là nhà cửa, là tuổi trẻ, là sắc đẹp. Hãy tự nhận ra rằng bất kỳ một kỹ năng nào, một sở hữu nào, một nguyên tắc nào mà chúng ta thu nhận được từ một người nào đó thì chính những người đó cũng lại thu nhận được từ những người khác.

Thay vì nuôi dưỡng cái tự ngã, bạn nên nuôi dưỡng sự tự tin. Tự tin là cảm thấy thoải mái với chính bản thân mình, mà không lo lắng người khác nghĩ gì về mình.

Phẩm chất cao quý và mạnh mẽ nhất của con người là khi họ đạt được những thành quả vĩ đại mà vẫn khiêm nhường nhận ra sự nhỏ bé của chính mình.

 

Ý chính từ Chương 9

Một khi ta rèn luyện cho tâm trí ta quay vào trong, đó cũng là khi ta sẵn sàng hướng ra ngoài, quan sát cách mà ta tương tác với người khác. Một trong những điều tốt nhất mà chúng ta có thể học là luyện tập lòng biết ơn.

Khi chúng ta biết ơn, chúng ta cảm thấy dễ chịu, chúng ta muốn được dễ chịu nhiều hơn. Nhờ đó mà lòng biết ơn trở thành thói quen.

Nếu lòng biết ơn đem lại sự dễ chịu thì cần tăng cường thêm sự biết ơn hàng ngày. Các vị sư thực tập sự biết ơn đối với mọi thứ, mọi nơi, mọi lúc. Họ không bao giờ bỏ quên dù là điều nhỏ nhất.

Hãy biết ơn mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh. Ngay cả khi cuộc đời không hoàn hảo, hãy luyện tập lòng biết ơn như tập cơ bắp. Mỗi ngày, mỗi giờ đều tập, cùng với thời gian, cơ bắp của sự biết ơn sẽ mạnh mẽ.

Tránh có tâm thức thiếu thốn nghèo khó. Khi ta có tâm thức nghèo, ta sẽ tập trung vào sự thiếu mà quên mất những gì ta đã có, đã được ban tặng. Ngay khi ta dán nhãn bất hạnh, tiêu cực vào bất cứ gì, tâm trí ta sẽ tin vào điều đó. Đừng như thế, hãy làm ngược lại. Mỗi khi có điều gì bất hạnh, thiếu thốn xảy ra, thay vì tập trung vào đó, hãy tập trung vào sự biết ơn những gì đã được ban tặng, những gì mà ta đang có, những gì mà ta đã đạt được.

Một khi chúng ta mở rộng lòng biết ơn trong nội tâm, chúng ta có thể mở rộng ra thế giới bên ngoài bằng cách thể hiện lòng biết ơn đó với người khác, nói lời cảm ơn, tập luyện lòng tốt, sự tử tế, tình nguyện giúp đỡ người khác và cộng đồng. 

Khi ta liên tục trao đổi lòng tốt và sự biết ơn với người khác, ta sẽ nhận được sự biết ơn từ người khác, đây là vòng xoáy liên tục của sự tích cực. 

Đôi khi, rất là khó mà thể hiện lòng biết ơn với người thân chỉ đơn giản vì họ ở gần ta quá nên ta coi việc họ đối xử tốt với ta là điều đương nhiên. Ta phải thực sự chú tâm vào thể hiện sự biết ơnvới họ.

Lòng biết ơn là mẹ của mọi phẩm chất. Lòng biết ơn mang lại sự từ bi, cảm thông, tự tin, sự kiên trì và mọi phẩm chất tích cực khác sẽ giúp ta tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống và giúp ta kết nối với người khác.

 

Ý chính từ Chương 10

Con người là động vật cộng đồng. Chúng ta cần có xã hội, cần tương tác người với người. 

Chúng ta thường xuyên yêu thương những người không yêu thương chúng ta nhưng lại bỏ quên những người yêu thương chúng ta.

Các vị sư tin rằng ai cũng quan trọng và ai cũng có điều đáng để học hỏi. Ở trong các đạo tràng, các vị sư không quyến luyến tình cảm, họ chỉ đơn giản là sống với ý tưởng yêu thương và chăm sóc người khác. Họ không có tình yêu chỉ dành cho một số người. Tình yêu của họ là tình yêu toàn thể, cùng một lúc. 

Chúng ta có xu hướng mong đợi người khác đến với mình hết lòng, dâng hiến cho chúng ta mọi thứ mà ta cần. Điều này là không thực tế bởi rất khó có thể tìm được một người như thế, cũng rất khó để trở thành một người như thế. Vì thế trong quan hệ với người khác, chúng ta phải xác định kỳ vọng dựa vào những gì người khác thực tế có thể đem lại chứ không bao giờ dựa vào sự mong muốn, khát khao của bản thân.

Bốn chữ C – Khả năng (competence), Sự chăm sóc (care), cá tính (character), và sự đều đặn (consistency) – như một cái bánh. Chúng ta càng có nhiều người mang nhiều tổ hợp của 4 từ này thì chúng ta càng có nhiều lời khuyên và sự giúp đỡ. 

Để tìm được sự đa dạng, chúng ta phải sẵn sàng mở lòng để có thêm nhiều kết nối mới. Chúng ta phải chấp nhận rằng vòng tròn nhỏ của gia đình không thể đem lại cho chúng ta tất cả những gì chúng ta cần. Và điều đó là tự nhiên.

Khi bạn xác định được kỳ vọng từ một mối quan hệ rồi, bạn sẽ thấy dễ dàng hơn để xây dựng và gìn giữ sự tin tưởng lẫn nhau.

Cần phải cẩn trọng với lòng tin. Đôi khi chúng ta tin người quá dễ hoặc chúng ta lại đa nghi chẳng tin ai. Dù là thái cực nào thì cũng không tốt. Lòng tin phải tùy theo đối tượng mà thay đổi, linh hoạt với từng đối tượng, dựa vào trải nghiệm với đối tượng đó. 

Nếu bạn muốn hạnh phúc, hãy ngừng tìm kiếm hạnh phúc trong mối quan hệ. Hãy tập trung vào bản thân mình, khi ấy tình yêu sẽ tìm tới. Năng lực của chúng ta sẽ bị giới hạn và luẩn quẩn khi chúng ta cứ lòng vòng tìm cách cắt sửa bản thân để phù hợp với người khác.

Trong quan hệ, tập trung vào chất lượng, không phải số lượng. Không phải là bao nhiêu thời gian bạn dành cho nhau mà là bao nhiêu năng lượng bạn dành cho nhau trong khoảng thời gian còn ở bên nhau.

Trong mọi mối quan hệ, bạn có cơ hội xác định kỳ vọng niềm vui, kỳ vọng nỗi đau mà bạn có thể chấp nhận được. Không có mối quan hệ nào là hoàn hảo, nếu niềm vui đã đạt được một số đỉnh cao, đôi khi chấm dứt lại hay hơn là tiếp tục. 

Khi kết thúc một mối quan hệ, hãy học bài học cần học để không bị rơi vào hoàn cảnh tương tự thêm lần nữa, tin vào giá trị của bản thân và dành nhiều thời gian yên tĩnh trước khi tiến tới mối quan hệ mới. Đừng để mất đi chính mình trong một mối quan hệ. 

 

Ý chính từ Chương 11

Mục đích cao nhất của cuộc sống là để phục vụ. Diệt ngã là con đường chắc chắn nhất để có được an lạc nội tâm và một đời sống đầy ý nghĩa. Bỏ đi tự ngã lại là xây dựng chân ngã. Các nhà sư sống để phục vụ. Tư duy như một nhà sư là tư duy tối thắng hướng tới phục vụ.

Thế gian là một trường học, giúp ta nhận ra một sự thật: chúng ta phải phục vụ và chỉ có trong sự phục vụ ta mới có thể tìm thấy hạnh phúc. Thấy mục đích của đời sống là chỉ vì bản thân sẽ dẫn tới đau khổ và thất vọng. Thấy mục đích sống là phục vụ sẽ dẫn tới cảm nhận hoàn thiện.

Phục vụ hoàn thiện chúng ta trên nhiều phương diện, trước tiên là niềm tin rằng chúng ta sinh ra trên đời này là để phục vụ người khác, phục vụ là bổn phận. Chúng ta sẽ rời khỏi thế gian này, để lại đằng sau một thế giới tốt đẹp hơn là khi ta đến, để lại đằng sau loài người hạnh phúc hơn. 

Tinh thần phục vụ giúp kết nối chúng ta, tăng trưởng lòng biết ơn và từ bi. Tinh thần phục vụ cũng giúp xây dựng sự tự tin, tự tôn, tự trọng.

Phần lớn con người chỉ nghĩ về bản thân mình. Nhưng nếu bạn lại nghĩ về mọi người thì mọi người sẽ nghĩ tới bạn và cả hai đối tượng đều sẽ cảm thấy tốt đẹp hơn. Nếu tất cả cùng suy nghĩ như thế thì thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều. 

Từ thiện không phải là dâng hiến bản thân. Từ thiện chẳng qua là lấy một thứ vốn sẵn có trên trái đất này và trả lại cho trái đất. 

Nếu quan sát kỹ, bạn sẽ thấy cơ hội để phục vụ có ở khắp nơi. Bạn có thể lựa chọn lăng kính để nhìn thế giới, lăng kính của tình yêu và trách nhiệm hay lăng kính của sức mạnh và sự cần thiết?. Lăng kính của tình yêu và trách nhiệm sẽ dẫn tới hạnh phúc.

Chúng ta sẽ có động lực phục vụ nếu nghĩ cả thế giới là một gia đình. Chúng ta sẽ là nhân chứng cho nỗi đau của người khác, chúng ta cảm nhận được phần nhân tính và sẽ được thúc đẩy tới hành động.

Phục vụ luôn là câu trả lời. Phục vụ giúp giảm bớt tải trọng của cuộc sống nặng nề mà ta phải chịu đựng. Khi chúng ta không mong chờ sự báo đáp thì ta sẽ gặt được niềm vui khi phục vụ. Phục vụ là trao đổi tình yêu.

 

Ý chính từ Kết Luận

# Kết luận thứ 1

Chúng ta không thể khống chế hay kiểm soát được điều gì sẽ xảy ra với chúng ta nhưng chúng ta có thể kiểm soát được thái độ, hành vi của mình khi những điều đó xảy ra. Nếu chúng ta phản ứng với sự giận dữ, sợ hãi, bực bội thì chúng ta sẽ đau khổ. Nếu chúng ta phản ứng với sự tĩnh lặng, chúng ta sẽ an vui hạnh phúc. 

# Kết luận thứ 2

Công cụ tốt nhất để ta có được lối tư duy như những vị sư là Thiền Định. Trong Thiền định, chúng ta tìm được sự sáng suốt, hiểu ra chính mình, trở thành phiên bản tốt đẹp nhất của chính mình ở mọi thời điểm.

# Kết luận thứ 3

Tín hiệu chúng ta thiền định đúng là nếu có một ngày không thiền, chúng ta sẽ nhớ thiền. Ngoài ra chúng ta nhận ra mình tỉnh thức nhiều hơn, biết được sự khởi lên của những ý nghĩ, tình thái trong nội tâm mình. Thiền định không phải lúc nào cũng là trải nghiệm dễ chịu nhưng càng thiền bạn sẽ càng nâng cao khả năng tự chủ bản thân. 

# Kết luận thứ 4

Các vị sư luôn gắng sống trong hiện tại, tỉnh thức về hiện tại và mãi mãi. Họ không đo đạc giá trị cuộc đời bằng những sự kiện lớn nhỏ mà đo bằng cảm thọ của những người mà họ tương tác, bằng khả năng gieo trồng phát triển hạt giống của lòng tốt và tình thương. 

# Kết luận thứ 5

Rèn luyện tâm thức để có thể quan sát được những ngoại lực ảnh hưởng tới nội tâm, đoạn diệt với tà niệm, luôn tìm kiếm động lực nội tại cao cả. Dần dà, một khi bạn thấu hiểu bản thân bạn rồi, bạn sẽ không bao giờ phải hỏi rằng ở trong hoàn cảnh này, một vị sư sẽ cư xử ra sao nữa. Lúc đó bạn chỉ còn hỏi một câu hỏi đơn giản là: Tôi sẽ phải làm gì?

Tóm tắt tác phẩm “Tư duy như một nhà sư” của Jay Shetty tới đây là hết. Dự án được thực hiện bởi Tự Giác . VN với phương châm: sống đời tỉnh thức, tự lực giác ngộ. 

 

Đăng nhập

Để tiếp tục đọc